Sơ đồ   |   Trợ giúp    
Nhập tên:
Mật khẩu:
Lấy lại mật khẩuĐăng ký
   
Trang chủ Tin tức Cơ sở dữ liệu
Từ khóa:
Đường dây nóng

Đặt lệnh qua điện thoại:
- Tel: 043.8248686
Chăm sóc khách hàng:
- Tel: 043.8248686
         
 

Tiện ích
Bảng giá trực tuyến
Giao dịch trực tuyến
Biểu đồ kỹ thuật
Thông tin tổng hợp
Kết quả giao dịch
Hộp thư WSS
Online 
30446331
Những chỉ số chứng khoán mới tại Việt Nam
Bên cạnh chỉ số "truyền thống" VN-Index và HaSTC-Index, thị trường chứng khoán Việt Nam đang ghi nhận sự góp mặt của các chỉ số mới, như: CBV-Index, SSI30-Index, DCVN30-Index, VIR-Index… Trong bài viết dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu những nét khái quát về những chỉ số này để nhà đầu tư có thêm các công cụ tham khảo hữu ích trong việc ra quyết định đầu tư.
   
CBV-Index: Chỉ số CBV-Index của Công ty Chứng khoán Biển Việt được tính từ cột mốc 100 điểm kể từ ngày 1/1/2007. Đây là chỉ số danh mục của 50 công ty đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. CBV-Index được chia thành 10 chỉ số đại diện tiêu biểu cho 10 ngành chính của nền kinh tế Việt Nam trên TTCK: Vận tải, công nghệ, máy công nghiệp, nguyên liệu, năng lượng, tiêu dùng, y tế, điện nước, tài chính, bất động sản và xe cơ giới. 50 công ty được xếp hạng vào trong danh sách của CBV-Index phải là các công ty có các điều kiện: có tổng giá trị thị trường trên 500 tỷ đồng, tổng giá trị mua bán cổ phiếu trong một năm gần đây phải hơn 50% giá trị thị trường của công ty, lợi nhuận sau thuế trong 4 quý liên tục phải dương và các chỉ số về nợ là hợp lý so với các công ty khác trong cùng ngành. Tuy nhiên, các công ty tài chính như hoạt động chứng khoán, các quỹ đầu tư sẽ không được xếp vào danh sách của CBV-Index.

SSI30-Index: Chỉ số này được Công ty chứng khoán Sài Gòn (SSI) xây dựng dựa trên phương pháp đang được áp dụng bởi HOSE trong xây dựng chỉ số VN-Index (phương pháp bình quân gia quyền với quyền số là số lượng chứng khoán tại thời điểm tính toán) với rổ cổ phiếu là 30 cổ phiếu đại diện cho tất cả các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong đó có 23 cổ phiếu niêm yết trên HOSE, 7 cổ phiếu niêm yết trên HASTC. Đây là những cổ phiếu có giá trị vốn hóa trung bình trong sáu tháng đạt hơn 1000 tỷ đồng và chiếm 83% tổng giá trị vốn hoá của 2 sàn HOSE và HASTC gộp lại. Ngày khởi điểm của SSI30-Index là 1/2/2007.
Tiêu chí lựa chọn cổ phiếu vào rổ cổ phiếu là giá trị vốn hóa, tính thanh khoản và tính đại diện. Cụ thể: giá trị vốn hoá trung bình trong sáu tháng phải đạt hơn 1000 tỷ đồng. Chỉ số thanh khoản tính bằng tổng khối lượng giao dịch của năm chia cho lượng cổ phiếu lưu hành trung bình năm ít nhất là 0,2. Công ty phải thuộc ngành có mức vốn hoá ít nhất đạt 1% mức vốn hoá của cả 2 sàn HOSE-HASTC. Tổng mức vốn hoá của 30 cổ phiếu phải trên 70% so với tổng mức vốn hoá của cả 2 sàn. Các cổ phiếu trong rổ tính chỉ số sẽ được cập nhật hàng quý.
 
DCVN30-Index: Đây là chỉ số của Quỹ Dragon Capital, đại diện cho giá trị giao dịch của 30 công ty hàng đầu có tổng giá trị thị trường và tính thanh khoản cao nhất trên cả ba thị trường HOSE, HASTC và OTC. Phương pháp tính DCVN30-Index tương tự như phương pháp mà Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM đang sử dụng để tính VN-Index nhưng có tham khảo thêm phương pháp tính các chỉ số nổi tiếng trên thế giới như các chỉ số của Standard & Poor’s. Ngày bắt đầu tính chỉ số là ngày 9/1/2004 với giá trị khởi đầu là 100 điểm.
Quỹ Dragon Capital đưa ra 2 loại chỉ số, DCVN30-Index Domestic dành cho nhà đầu tư trong nước (Chỉ số này thể hiện số lượng cổ phiếu (CP) có thể được giao dịch trên thị trường của nhà đầu tư trong nước và chỉ số DCVN30-Index Foreign cho nhà đầu tư nước ngoài (thể hiện số lượng CP được giao dịch trên thị trường của nhà đầu tư nước ngoài). Các nhóm ngành đang được thể hiện trong chỉ số này gồm: ngân hàng, bất động sản, thực phẩm và đồ uống, phân phối, bảo hiểm, năng lượng, các loại hình tài chính khác, dịch vụ công ích, vận tải, nguyên vật liệu và công nghệ thông tin. DCVN30-Index chỉ tính phần CP có thể giao dịch được trên thị trường (không bao gồm số lượng CP do nhà nước nắm giữ và số lượng CP bị giới hạn giao dịch trong một thời gian dài do một người hay một nhóm cổ đông nắm giữ...).
 
VIR 50 Index: Đây là chỉ số về giá cổ phiếu được tính theo phương pháp tính chỉ số Dow Jones (phương pháp số bình quân giản đơn: lấy tổng thị giá của chứng khoán chia cho số chứng khoán tham gia tính toán), được báo Đầu tư chứng khoán chính thức ra mắt ngày 3/1/2008, chọn mốc khởi đầu là 1.000 điểm. Đây là chỉ số biểu thị cho biến động giá của 50 cổ phiếu niêm yết có giá trị vốn hoá lớn nhất và tính thanh khoản cao nhất ở cả hai sàn giao dịch (chiếm khoảng 80% tổng vốn hoá của toàn thị trường).
Đặc trưng cơ bản của VIR 50 Index là chỉ phản ánh biến động về giá cổ phiếu, mà không quan tâm đến những biến động về lượng. Nhà đầu tư sẽ có thêm một chỉ số chứng khoán tham khảo trong quá trình đầu tư, bên cạnh các chỉ số chứng khoán hiện hành như VN-Index và HASTC-Index. Việc xem xét, chọn lại cổ phiếu trong rổ cổ phiếu tính VIR 50 Index sẽ được thực hiện định kỳ để đảm bảo tính đại diện của chỉ số này trên TTCK niêm yết tại Việt Nam.
 
FPTS-Index: Đây là bộ chỉ số lấy mức vốn hóa thị trường làm trọng số và được tính toán theo các phương pháp chuẩn mực được sử dụng rộng rãi trên thế giới và Việt Nam với ngày gốc là ngày 1/1/2007 và mốc khởi đầu là 100 điểm. Cấu trúc của Bộ chỉ số gồm Chỉ số FPTS tổng hợp (FPTS Composite Index) và chỉ số 18 ngành theo chuẩn chia ngành ICB (Industrial Classification Benchmark): dầu khí, hóa chất, tài nguyên, vật liệu xây dựng, hàng hóa và dịch vụ công nghiệp, ô tô phụ tùng, thực phẩm và đồ uống, đồ dùng cá nhân và đồ gia dụng, y tế, bán lẻ, truyền thông, du lịch giải trí, dịch vụ công cộng, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ tài chính, công nghệ, viễn thông. Chỉ số FPTS tổng hợp bao gồm tất cả các mã đại diện ở 18 ngành ở cả 2 sàn giao dịch.
 

Tiêu chí lựa chọn chứng khoán là tính thanh khoản và giá trị vốn hóa thị trường. Cụ thể, chứng khoán được lựa chọn phải có tổng khối lượng giao dịch trong 12 tháng qua phải lớn hơn 20% tổng khối lượng đang lưu hành bình quân trong 12 tháng tương ứng. Sau khi đã đạt yêu cầu về tỷ lệ thanh khoản, chứng khoán được cho vào bộ chỉ số ngành theo trình tự từ cao xuống thấp của tổng giá trị vốn hóa thị trường cho đến khi tổng giá trị vốn hóa thị trường lũy kế của các chứng khoán đã cho vào đạt 80% tổng giá trị vốn hóa thị trường của ngành đó. Việc xem xét bổ sung và loại bỏ các cổ phiếu trong bộ chỉ số được Hội đồng chỉ số FPTS thực hiện hàng quý dựa trên các tiêu chí lựa chọn chứng khoán kết hợp với việc cân nhắc cụ thể từng trường hợp.

Saga
Số lượt đọc: 9935  -  Cập nhật lần cuối: 16/12/14 09:56:02
  Các tin bài mới
  10/03/2009    01h52    ĐTCK  Giao dịch bảo chứng: Khái niệm và sự cần thiết
  09/03/2009    10h01    ĐTCK  Một số lưu ý khi đọc báo cáo tài chính
  09/03/2009    10h00    Thanh Niên  Giá cổ phiếu và năng lực ban điều hành
  11/02/2009    02h52    Saga  Định giá cổ phiếu: Yếu tố ban lãnh đạo doanh nghiệp
  08/02/2009    02h55    ĐTCK  Báo cáo thường niên chuyển thông tin đến thị trường và xã hội như thế nào?
  06/02/2009    03h08    Saga  Định giá tài sản tài chính với cách tiếp cận quyền chọn thực
  04/02/2009    08h41    ĐTCK  Giao dịch chứng khoán lô lẻ
  20/01/2009    02h45    ĐTCK  Ngăn ngừa xung đột lợi ích liên quan đến công ty niêm yết
  15/01/2009    11h04    ĐTCK  Đầu tư ngược xu thế
  13/01/2009    11h13    ĐTCK  Lãi cơ bản trên cổ phiếu
Xem tiếp    < 1 | 2 | 3 | 4 | 5 >
  Các tin bài khác
  22/04/2008    02h22    WSS  Giao dịch từ 25% trở lên số cổ phiếu cố quyền biểu quyết
  22/04/2008    02h22    WSS  Hướng dẫn giao dịch thoả thuận trên TTCK
  22/04/2008    02h21    WSS  Cầm cố chứng khoán
  22/04/2008    02h21    WSS  Cổ phiếu - Kiến thức cơ bản
Xem tiếp    < 1 | 2 | 3 >
Trang chủ   |   Tin tức   |   Cơ sở dữ liệu   |   Liên hệ  
Trụ sở chính: Tầng 9, Tòa nhà ICON4 số 243A Đê La Thành, Quận Đống Đa, Hà Nội
Tel: 84.4.39367083 / Fax: 84.4.39367082
Website: www.wss.com.vn
Phát triển bởi Active Group